Thursday, September 29, 2011

Thượng Sĩ Nguyễn Ngọc Ánh

Người Chết Ở Giờ Thứ 25
::: Đông Phương  :::

Từ xưa tới nay, khi nói về một chiến công, khi ca tụng một anh hùng, người ta thường có thói quen nhắc nhở đến những vị tướng tá trong quân đội hoặc những người có tiếng tăm trong xã hội mà nhiều người biết đến, chứ ít ai nhắc nhở hay đi tìm hiểu những hành động anh hùng của những con người, mà tên tuổi của họ còn xa lạ với mọi người… mà thực ra, nếu chúng ta đem những hành động dũng cảm của họ ra so sánh, chưa hẳn ai đã hơn ai. Tôi cho đây là một sự thiếu sót lớn lao của những người cầm bút, của những nhà viết sử trong thời gian qua.
Nếu viết về những hành động dũng cảm, gương hy sinh của những chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (QL/VNCH) suốt 20 năm cầm súng chiến đấu để ngăn chặn làn sóng xâm lăng của bọn Cộng Sản phương Bắc, thì không phải chỉ có những sự hy sinh của cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh, Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, Trung Tá Phạm Phú Quốc… mà theo tôi, sự hy sinh của những vị tướng, tá trên đây cũng không khác gì những hành động và sự hy sinh đầy quả cảm của trên nửa triệu chiến sĩ QL/VNCH khác đã nằm xuống trên khắp chiến trường từ miền Nam ra đến miền địa đầu giới tuyến trong suốt 20 năm chiến đấu chống giặc vừa qua.
Cũng như tất cả mọi người, tôi khâm phục những hành động gan dạ, dũng cảm và ca tụng những chiến công hiển hách của những anh hùng đó, dù biết trước khi bước vào cuộc chiến sẽ gặp biết bao hiểm nguy, có thể hy sinh tính mạng. Thế nhưng, họ vẫn hăng hái vào cuộc, chấp nhận những rủi may và thua thiệt cho mình không ngoài mục đích cao cả: Ngăn chặn làn sóng xâm lăng của Cộng Sản, bảo vệ sự Độc Lập cho Tổ Quốc, Tự Do cho toàn dân.
Chiến tranh là những bất trắc, hiểm nguy luôn luôn rình rập vây quanh. Người chiến sĩ đã chấp nhận vào cuộc là đã chấp nhận đoạn kết của những sự rủi may xảy đến cho bản thân mình bất cứ lúc nào. Hành động lao lên phía trước trong lưới đạn của quân thù của người binh nhì bộ binh cũng có giá trị tương đương như hành động phác họa kế hoạch hành quân và thị sát mặt trận để chỉ huy của một ông tướng. Hai nhiệm vụ tuy khác nhau, nhưng đều có chung một mục đích: tìm và diệt quân thù!. Quân đội rất cần những cấp chỉ huy giỏi và cũng không thể thiếu những anh chiến sĩ gan dạ, kiên cường.
Nhân tưởng niệm 30 năm mất nước 1975-2005, tôi xin được kể về cái chết của một người lính chiến, một cái chết hào hùng ở vào giờ thứ 25…

***
Là người quân nhân, trong cuộc đời lính chiến của mình, ai không một lần được chứng kiến những chiến công hiển hách của đơn vị hoặc một sự hy sinh anh dũng của đồng đội mình. Bởi vậy, suốt hơn 5 năm sống trong quân ngũ, tôi đã được chứng kiến khá nhiều gương hy sinh của cấp chỉ huy, bạn bè và những thuộc cấp của mình. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất vẫn mãi mãi in đậm trong tâm hồn tôi cho đến bây giờ, chính là cái chết của Thượng Sĩ Ánh, người trung đội trưởng trẻ tuổi và tài năng của Đại Đội tôi…
Thượng Sĩ Nguyễn Ngọc Ánh, 21 tuổi, Trung Đội trưởng Trung Đội 2, Đại Đội 4, Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 15, Sư Đoàn 9 Bộ Binh có lẽ là một Thượng Sĩ trẻ nhất của QL/VNCH.
Gặp và biết được Ánh, khi tôi được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 3/15, và được Tiểu Đoàn đưa xuống làm đại đội trưởng Đại Đội 4, thay thế cho vị ĐĐT tiền nhiệm vừa thuyên chuyển nhận công tác khác.
Cũng như các đơn vị trưởng khác, trước khi tiếp xúc với anh em binh sĩ trong đại đội, tôi cho mời tất cả các cấp chỉ huy từ Tiểu Đội trưởng trở lên, để làm quen và tìm hiểu tâm tình của anh em binh sĩ trong đại đội. Ấn tượng in đậm trong tâm hồn tôi mạnh nhất là hình ảnh một anh lính rất sữa: nhỏ con, dáng dấp trắng trẻo như một thư sinh, rụt rè, bẽn lẽn khi phải tự giới thiệu về mình: E…m, em Trung Sĩ Nhất Nguyễn Ngọc Ánh, số quân…
Trong lúc cậu ta đang tự giới thiệu về mình, Thiếu Úy Quang (ĐĐ phó) nói nhỏ vào tai tôi:
- Nó thì lúc nào cũng như con gái vậy, nhưng trung úy coi chừng lầm chết… mỗi lần đụng địch là tự nhiên nó lì lợm và dữ như cọp vậy.
Từ ấn tượng ban đầu tốt đẹp đó, dần dần tình cảm tôi dành cho Ánh không còn đơn thuần là tình cảm của một cấp chỉ huy đối với một thuộc cấp, mà tôi coi nó như một người em ruột của mình. Ngược lại, Ánh cũng rất qúi trọng và không hề giấu diếm tôi điều gì về cuộc đời và gia đình Ánh:
- Trung úy biết không?…
Tôi ngắt ngang:
- Lại Trung úy, em quên những điều anh dặn rồi à?
- Dạ, em nhớ, nhưng tại em quen miệng… Thưa anh, ba em bị Việt Cộng giết chết (vì ông là Phó Xã trưởng An Ninh) lúc em mới 16 tuổi, mỗi lần nghĩ đến cái chết của ổng là em không sao học được nữa. Anh biết không, bọn nó tàn ác lắm, nó đập đầu ổng chết rồi còn tàn nhẫn moi óc ra ngoài… Sau khi chôn cất ba em xong, em đã tình nguyện nhập ngũ 3 lần, nhưng không ai nhận em cả vì họ cho rằng em còn quá nhỏ, và họ khuyên em lên về nhà tiếp tục đi học. Đằng đẳng 2 năm, nói là đi học chứ thật ra đầu óc em lúc nào cũng chỉ ẩn hiện những hình ảnh về cái chết thương tâm của người cha, và những căm thù món nợ máu phải trả cho ông già. 18 tuổi, em tình nguyện ngay vào sư đoàn 9, và được cho đi học khóa Hạ Sĩ Quan tại TTHL/Đồng Đế Nha Trang. Ra trường em may mắn được đổi về Tiểu đoàn này cho đến ngày nay…
Ánh không kể về những chiến công của mình, về sự gan dạ và cái lon Trung Sĩ Nhất đặc cách được gắn tại mặt trận của mình, chỉ sau một năm có mặt tại đơn vị. Càng gần gũi Ánh, càng chứng kiến sự gan dạ, khôn ngoan và tài lãnh đạo chỉ huy của Ánh, tôi càng khâm phục và thương nó nhiều hơn. Có nhiều lúc, chứng kiến những hành động quá hăng say của Ánh trong chiến đấu, tôi đã phải kêu máy dzũa cậu ta một cách thậm tệ. Cũng vì cậu ta vì quá hăng say chiến đấu, đôi lúc đã quên mình là cấp chỉ huy, lao lên tuyến đầu làm nhiệm vụ của một người lính khinh binh. Bất luận lúc nào, khi nghe tiếng súng nổ là cậu ta như con hổ dữ lao lên phía trước với hai trái lựu đạn trong tay, nhào vào những dãy hố phòng thủ của địch, mặc cho lưới đạn đan kín tứ bề. Chỉ tội cho cậu hiệu thính viên, vừa phải khó nhọc bám theo Ánh truyền và nhận lệnh, vừa phải nghe những lời la hét giận dữ của tôi… và lần nào cũng như lần ấy, điệp khúc: Xin Alfa thông cảm, em thấy mục tiêu ngon quá, phải tấn công nhanh mới kịp…
Có một điều khá lạ lùng là, như có một phép mầu nào đó che chở: chẳng có một viên đạn nào thèm đụng đến cậu ta. Và một lần nữa, TSI Nguyễn Ngọc Ánh nhận cấp Thượng Sĩ đặc cách tại mặt trận sau một trận đánh giải tỏa tỉnh lộ từ quận Cai Lậy (Định Tường) vào tỉnh Kiến Tường, với thành tích: Tiêu diệt trọn vẹn một trung đội súng nặng của Việt Cộng. Tịch thu hàng chục cây súng, trong đó có 1 súng cối 82 ly, 1 Đại liên 12 ly 8, 2 B.40… trong lúc cậu ta vừa tròn 21 tuổi.
Khi tiếng súng đã im bặt, Ánh lại trở về thế giới rụt rè, e lệ cố hữu. Nếu ai chưa từng chứng kiến những hành động gan dạ và dũng cảm của Ánh ngoài mặt trận, khó có ai lại tin được rằng cậu bé với dáng dấp thư sinh đó, lại là một cấp chỉ huy khôn ngoan, dạn dày kinh nghiệm, đã gây ra không biết bao nhiêu thiệt hại đáng kể cho bọn Cộng Sản xâm lăng…
Nếu tất cả chỉ muốn viết những hành động gan lỳ, những chiến công và tài lãnh đạo của một HSQ trẻ của quân đội, và nếu cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn, ngày quốc hận 30/4/75 không xảy đến cho dân tộc Việt Nam thì tôi không viết bài này. Bởi, tôi không thích ca tụng người còn sống, kinh nghiệm đã cho ta thấy: có biết bao nhiêu những vị tướng, tá… khi còn quyền thế trong tay thì tha hồ khua môi, múa mỏ. Đến lúc quốc biến thì co vòi, rút cổ, cao bay xa chạy bỏ mặc bạn bè, thuộc hạ sống chết mặc bay… Trong tù thì xum xoe, bợ đỡ nịnh hót kẻ thù, qua được nước thứ ba thì lại bắt đầu giở thói kẻ trên người trước…
Thượng Sĩ Nguyễn Ngọc Ánh, tuổi đời còn quá trẻ và cấp bậc thì quá nhỏ nhoi trong quân đội. Thế nhưng, anh có đủ tư cách, phẩm chất của một người lính chân chính. Hành động của anh thật xứng đáng là hành động của một anh hùng: Anh đã dùng súng tự kết liễu đời mình, sau khi nhận được lệnh tùy nghi của Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, do tôi ban lại. Anh đã hành xử đúng phẩm cách của một cấp chỉ huy: thà tự xử mình, chứ không để kẻ thù xử mình.
Tiếng súng đã nổ lúc 10 giờ 25 phút, ngày 1/5/1975 tại phi trường Mộc Hóa, tỉnh Kiến Tường của cố Thượng Sĩ Nguyễn Ngọc Ánh đã để lại ấn tượng không phai trong tâm hồn tôi, và là bài học nhắc tôi luôn nhớ: là chiến sĩ QL/VNCH, tôi phải luôn luôn sống xứng đáng với tâm niệm Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.


Đông Phương
(Tưởng niệm 30 năm mất nước)

Nguồn : Bảo Vệ Cờ Vàng

Tuesday, September 27, 2011

Ðồng hương Kiên Giang giỗ anh hùng Nguyễn Trung Trực
Sunday, September 25, 2011 6:19:45 PM
Bookmark and Share



Nguyên Huy/Người Việt



WESTMINSTER (NV) - Trưa hôm Chủ Nhật, 25 tháng 9, đồng hương Kiên Giang đã tổ chức linh đình lễ giỗ vị anh hùng của dân tộc Nguyễn Trung Trực tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt và sau đó buổi lễ đã trở thành một ngày hội vui họp mặt của khoảng 500 đồng hương đến tham dự.
Nghi lễ rước bàn thờ chuẩn bị làm lễ giỗ anh hùng Nguyễn Trung Trực. (Hình: Dan Huynh/Người Việt)

Buổi lễ được bắt đầu bằng cuộc rước kiệu anh linh với bức tượng bán thân của anh hùng Nguyễn Trung Trực, được toàn thể đồng hương rước từ ngoài vào hội trường và đặt trên bàn thờ dưới di ảnh của ngài.

Trước khi cử hành buổi lễ, ông Lê Minh Triều, hội trưởng Hội Ái Hữu Ðồng Hương Kiên Giang, nhắc lại tiểu sử vị anh hùng của dân tộc mà hết thẩy người dân Kiên Giang đã coi như vị thần linh của con dân.

Ông nói: “Hôm nay chúng ta có mặt đông đủ nơi đây để làm lễ giỗ lần thứ 143 anh hùng Nguyễn Trung Trực để chứng tỏ lòng tri ân sâu xa của con dân Kiên Giang với ngài.”

Tiếp đó, ông nhắc lại những chiến công hiển hách của ngài mà trận đánh đốt phá tan chiếc pháo hạm tân tiến “Esperance” của Pháp tại Vàm Nhật Tảo, trận công đồn Rạch Giá giết được 5 tên võ quan Pháp, trận tấn công vào châu thành Rạch Giá làm chủ tình hình được 5 ngày, khiến quân Pháp phải dùng tổng lực của mình để đối phó với nghĩa quân.
Ba con lân vái trước bàn thờ đầy thức ăn do đồng hương Kiên Giang đóng góp. (Hình: Dan Huynh/Người Việt)

Cuộc kháng chiến của Nguyễn Trung Trực cùng dân binh khắp các tỉnh Rạch Giá, Tân An, Gia Ðịnh quật cường đến độ quân Pháp phải dùng quỉ kế bắt thân mẫu của ngài cùng bà con thân tín trong vùng để làm con tin buộc ngài phải đầu hàng nếu không sẽ tàn sát hết. Trước thế cô, lương thực cạn và vì muốn cứu sinh linh hàng trăm người vô tội đang bị Pháp bắt làm con tin, ngài phải giải tán nghĩa quân và tự ra nạp mình cho giặc. Sau đó, vào ngày 28 tháng 8 năm Tân Mão, ngài bị Pháp lên án tử hình và hành quyết tại trước nhà bưu điện Rạch Giá.

Vẫn theo lời ông hội trưởng, sau đó người dân vùng Kiên Giang Rạch Giá cùng nhiều nơi khác đã lập đền thờ ngài mà ngày nay tại châu thành Rạch Giá còn ngôi đền thờ được dân chúng nhang khói tu bổ rất trang nghiêm.
Nữ đồng hương Kiên Giang cùng góp tay sửa soạn cỗ cho mọi người “thừa huệ” sau lễ giỗ anh hùng Nguyễn Trung Trực. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Bài diễn văn của ông hội trưởng cũng còn nhắc đến một vị phó tướng của Nguyễn Trung Trực là Lâm Quang Ky, có được đặt bài vị trên bàn thờ, mà trong buổi lễ hôm nay cũng có mặt các cháu chắt của ngài.

Tiếp đó, ông Tạ Duy Luân, trưởng ban tổ chức, phát biểu rằng: “Mỗi năm đồng hương Kiên Giang có ba cuộc họp mặt chính là vào dịp hè, lễ giỗ anh hùng Nguyễn Trung Trực và Tất niên hay Tân niên. Buổi lễ giỗ năm nào, đồng hương Kiên Giang cũng đến tham dự rất đông như để nhắc nhở cho con cháu về một anh hùng của dân tộc đã không quản thế cô sức yếu, vẫn quyết gìn giữ đất nước của ông cha để lại trước sự xâm lăng của quân Pháp.”

“Ðiều rất đáng ghi nhận là buổi lễ giỗ đã được rất nhiều đồng hương đóng góp không chỉ công sức mà cả tài vật cùng ban tổ chức. Ðiều đó khiến ban tổ chức chúng tôi rất lấy làm vui vì nó chứng tỏ được lòng thành kính biết ơn sâu xa đến tổ tiên hết lòng vì dân vì nước. Nên tôi nghĩ gương sáng của anh hùng Nguyễn Trung Trực sẽ soi sáng cho con dân Kiên Giang đặc biệt là cho những thế hệ Kiên Giang tiếp nối noi theo,” ông Luân nói thêm.

Theo lời ông trưởng ban tổ chức, khi bước vào hậu trường sân khấu thì thấy lời ông nói là đúng. Phòng hậu trường đông chật các bà các cô vừa gái Kiên Giang vừa dâu Rạch Giá tíu tít sửa soạn các phần ăn sau buổi lễ. Trong khi đó, ở bên ngoài, xe tư nhân tới tấp đưa thực phẩm đến. Bánh trái, xôi chè, nước uống la liệt.

Chủ nhân Kiên Giang Bakery, mang hàng chục hộp bánh lớn nhỏ đến, vui vẻ cho biết: “Hội thành lập được ba năm tôi mới biết mà gia nhập hội. Từ đó đến nay, không có buổi họp mặt nào của hội mà chúng tôi không tham dự, đóng góp. Ðây là một niềm vui của chúng tôi cũng như của bà con Kiên Giang nên nhà báo thấy đó, thực phẩm do bà con đóng góp cho buổi lễ giỗ này không còn nơi chứa nữa.”

Trở lại ngoài hội trường, nơi cử hành lễ giỗ. Các vị niên trưởng trong hội xúng xính trong những lễ phục cổ truyền Việt Nam tiến hành các nghi thức của lễ an vị thần, tế lễ dâng hương, tẩy trần, tiến tửu... trong tiếng chiêng trống đổ hồi rộn rã.

Lễ tất, mọi người được ban tổ chức mời những phần ăn được ban tổ chức mang đến tận chỗ trong khi trên sân khấu các tiết mục văn nghệ cây nhà lá vườn được trình diễn. Vào lúc này, nhiều người không có chỗ trong hội trường đã quần tụ ngay hành lang trước cửa và phía sau của nhật báo Người Việt để cùng nhau ăn chung một mâm cỗ lớn, nói cười rổn rảng, huyên náo, như trong một ngày hội vui tại quê nhà vào những năm thanh bình.

Lớp lớn tuổi thì hỏi nhau những cơ cực đời sống ngày mới qua, nay thì ai nấy đều ổn định được cuộc sống, con cái thành thân, tốt nghiệp được bậc đại học. Một vài người được nhắc đến vì những thành công trên thương trường tại thủ đô của người Việt tị nạn. Giới trẻ cũng náo nhiệt làm quen nhau, lắng nghe những câu chuyện mà một vài bạn trẻ trong nhóm kể về quê hương... xa lạ của mình.

–––

Liên lạc tác giả: NguyenHuy@nguoi-viet.com


Từ Đó Em Buồn


Tác giả : Trần Thiện Thanh
Trình bày : Hoàng Nhật Thơ

Sunday, September 25, 2011

Em Chờ Anh ...


Em chờ anh ... từ một chiều đưa tiễn,
Khoác chiến bào ... anh gìn giữ quê hương,
Em nâng niu gói trọn vẹn niềm thương,
Trong trang sách ... sân trường buồn im lắng.

Em chờ anh đã bao mùa mưa nắng,
Sông Kiên buồn lờ lững tháng ngày trôi,
Chiến chinh dài ... hai đứa mãi ngăn đôi,
Trời tháng hạ sao bờ môi lạnh giá.

Em chờ anh bao mùa thu đổ lá,
Nhặt lá vàng ... em vẽ trái tim yêu,
Viết tên anh với thương nhớ thật nhiều,
Gởi cơn gió bao chiều ... trời buông nắng.

Em chờ anh ... trinh nguyên tà áo trắng,
Nụ hương tình cánh phượng vỹ ngày xưa,
Tháng ngày trôi trong nỗi nhớ đong đưa,
Nói sao hết cho vừa bao thương nhớ.

Em chờ anh từ những ngày nghiệt ngã,
Tháng tư buồn tang tóc cả quê hương,
Tóc dần phai theo vạt nắng cuối đường,
Nhưng nào thấy bóng người thương trở lại.

Em chờ anh trong cõi lòng tê tái,
Hoàng hôn buồn sầu tím cuối trời xa,
Em lắng im cho mi mắt nhạt nhòa,
Hoàng hôn đến bao lần trong ngấn lệ.

Em chờ anh đã ba mươi năm lẻ,
Phố Kiên buồn ... sầu dâng mắt đong đưa,
Mỗi con đường kỷ niệm những ngày xưa,
Em đếm bước ... từng cơn mưa buốt giá.

Em chờ anh trong mỏi mòn hơi thở,
Anh nơi nào từ gãy súng tang thương,
Em chờ anh trên lối ngõ yêu đương,
Dù là nắm xương tàn ... Anh trở lại !

Sept 25, 2011
Hoàng Nhật Thơ


Saturday, September 24, 2011

Ta Chờ Em ...


Ta chờ em bao lần thu thay lá,
Đếm tháng ngày trên những nhánh tàn phai,
Lối thu xưa ... chừ thiếu một gót hài,
Từng vạt nắng trải dài bao nỗi nhớ.

Ta chờ em trong mưa buồn hiu hắt,
Từng giọt sầu tí tách vọng buồn tênh,
Đêm từng đêm trong bóng tối mông mênh,
Ta thầm đợi một bóng hình dĩ vãng.

Ta chờ em trong chuỗi ngày quên lãng,
Một sớm nào chợt thấy tóc điểm sương,
Tuổi đời trôi ngày tháng bụi mờ gương,
Hay thương nhớ buồn vương phai sợi tóc.

Ta chờ em ... trăng đầy rồi lại khuyết,
Đã bao mùa ... trăng nghiêng mảnh chơ vơ,
Hồn của ta ... một nửa mảnh thẫn thờ,
Nửa còn lại lửng lơ ngày tháng cũ.

Ta chờ em ... tuổi xanh rong rêu phủ,
Mực tím buồn, trang lưu bút mờ phai,
Bao nhiêu năm ký ức đọng u hoài,
Trường nghiêng nắng, vai kề vai ... dĩ vãng.

Ta chờ em ... mây u sầu giăng kín,
Không gian buồn chẳng giọt nắng chiều rơi,
Hoàng hôn buông nhẹ khép cuối chân trời,
Ta im lắng nghe rã rời hoang phế.

Ta chờ em ... công viên buồn rũ lá,
Ghế đá sầu trơ vắng đã bao năm,
Từng bước chân quá khứ bước âm thầm,
Trên lối nhỏ ngược xuôi dòng tiềm thức.
 
Ta chờ em cả cuộc đời thao thức,
Khóe mắt chừ in đậm dấu chân chim,
Dù mai đây thiên thu giấc im lìm
Ta vẫn đợi sau hàng mi nhẹ khép.

Sept 24, 2011
Hoàng Nhật Thơ.



Sunday, September 18, 2011

Thu về



Thu về góc nhỏ Tha Hương*,
Sông Kiên, Rạch Giá, mái trường Nguyễn xưa,
Kỷ niệm nào mãi đong đưa,
Dâng lên ánh mắt lưa thưa giọt sầu,
Phượng cài áo trắng ... tìm đâu,
Tóc huyền giờ đã phai màu thời gian,
Lưu bút buồn nhớ miên man,
Ngày xanh khép lại ... phai tàn tháng năm,
Đâu đây ... một thuở xa xăm,
Kề vai dưới ánh trăng rằm sáng soi,
Tình hồng tô thắm bờ môi,
Tim nồng, môi nhẹ tìm môi ... thẹn thùng,
Tay đan mộng ước mông lung,
Ngày mai pháo đỏ bước chung cuộc đời,
Thu nào lệ đẫm người ơi,
Thu nào hai đứa đôi nơi phương trời,
Ba mươi năm lẻ ... lá rơi ...
Người đây, kẻ đó ... buồn ơi ... Thu về !

Sept 17, 2012
Hoàng Nhật Thơ

*Blog Tha Hương


Tuesday, September 06, 2011

Vào Thu ...


Trời vào thu ... gió giao mùa se lạnh,
Không gian buồn lờ lững vài áng mây,
Lá thay màu ... nắng lẫn trốn đâu đây,
Chiều dần xuống ... tâm tư chùng sâu lắng.

Từng giọt mưa đẫm ngõ hồn hoang vắng,
Rơi chậm buồn tí tách nhịp thời gian,
Mảnh hoàng hôn trên ngày tháng phai tàn,
Đời như chiếc lá vàng hiu hiu gió.

Tìm lại đâu tháng ngày xa xưa đó,
Mỗi thu về ... áo trắng đẹp lối đi,
Vẫy tay chào đưa tiễn hạ sầu bi,
Vui nhẹ bước thầm thì niên học mới.

Khép mắt lại ... đã xa tầm tay với,
Vui hay buồn ... kỷ niệm cũng khắc ghi,
Trong cuộc đời bao lần lệ hoen mi ...
Khi kẻ ở ... Người đi ... mùa thu chết !

Sept 06, 2011
Hoàng Nhật Thơ 


Sunday, September 04, 2011

Đời Người ... Đời Lính ...

Người viết diễn đọc

     "Nguyện hiến dâng cuộc đời cho Non Sông, Tổ Quốc" ... đó là lời thề của những người trai thời loạn khoác chinh y. Anh lìa xa mái ấm gia đình, nơi ấp ủ một quãng đời lớn khôn trong "Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình", "Công Cha như núi Thái Sơn" ... rời mái học đường với bao kỷ niệm thân thương "mỗi năm đến hè, lòng man mác buồn ..." của một thời áo trắng ... gởi lại người yêu nơi phố thị ngày ngày ngóng trông cánh thư hồng viết "từ KBC giá lạnh rừng sâu ...", để lại nguời vợ hiền nơi hậu phương với hình ảnh "ngày đó anh còn nhớ buổi đăng trình, em bồng con đứng nhìn ...", ngày đêm trông chờ tin chồng ở một vùng hỏa tuyến mịt mờ khói lửa nào đó ... Anh để lại sau lưng tất cả những gì thân thương nhất ... vui bước quân hành, dâng hiến cả cuộc đời cho Non Sông-Tổ Quốc ... chúng ta thường nói kiếp nhân sinh là 60 năm cuộc đời hoặc 100 năm trong cõi phù du nhưng cuộc đời của lính là bao lâu nào ai biết được ...

     Hình hài của những người trai đi viết sử xanh là do cha mẹ tạo ra, được nuôi nấng, dạy dỗ, tập ăn, tập nói ... Ơn thầy cô mài giũa trở thành người hữu ích cho mai sau trong xã hội ... "Công Cha-Nghĩa Mẹ-Ơn Thầy" và anh đã trưởng thành trong khói lửa quê hương. Đời Lính mới thật sự là cuộc đời của những người đem sinh mạng treo đầu súng để mang niềm vui cho đời ... Đời lính được tính kể từ khi anh đưa tay tuyên thệ "Vị Quốc Vong Thân" trước bàn thờ Tổ Quốc nơi Vũ Đình Trường trong ngày lễ mãn khóa, chính thức trở thành Người Lính VNCH nhận lãnh gói hành trang "Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm" lao vào khói lửa. Trên bước quân hành "Bảo Quốc-An Dân", Anh không hề nghĩ đến nấc thang binh nghiệp, Anh chỉ biết anh là Người Lính VNCH với "Trách Nhiệm" đem cuộc đời, máu xương, sinh mạng để gìn giữ quê hương được an lành, người dân được no ấm, hạnh phúc nơi hậu phương. Hằng trăm Người Lính nhỏ còn mài đủng đáy quần trên ghế nhà trường nhưng quãng đời niên thiếu của họ đã gắn liền với cuộc chiến, họ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ mái trường Thiếu Sinh Quân, bảo vệ tổ quốc trong những giây phút cuối cùng của cuộc chiến, máu của họ đã thấm vào trang chiến sử bi hùng của QLVNCH.

     Hai mươi năm trên bước đường "xanh cỏ, đỏ ngực" đánh giặc quên cả tháng ngày ... có biết bao nhiêu Người Lính VNCH hiến dâng cả cuộc đời chỉ trong vài tuần, vài tháng hoặc vài năm rồi trở về im lìm trong hòm gỗ cài hoa ... bao nhiêu người hiến dâng cả cuộc đời chỉ trong một vài ngày ngắn ngủi sau khi trình diện đơn vị đã được trang trọng phủ cờ tổ quốc ... bao nhiêu người đã hiến dâng trọn cuộc đời trở về bằng tấm thẻ bài lạnh giá mang giòng máu của cha ... bao nhiêu người đã hiến trọn cuộc đời cho Non Sông khi đôi chân không còn để mang lại đôi giày saut vương cát bụi sa trường, kẻ thì không còn đôi tay để cầm súng ngăn bước giặc xâm lăng, người thì không còn cặp mắt nhìn những đóm mắt hỏa châu soi sáng chiến trường ... Những người còn lại hiến dâng cuộc đời cho đến ngày cuối cùng nhưng không phải ngày cuối của đời người, đời lính mà là ngày cuối của cuộc chiến quân sự trên quê hương ; Sau ngày bị bức tử "gãy súng", bao nhiêu người đã rút vào rừng lập chiến khu phục quốc, bao nhiêu người rời bỏ mảnh đất tạm dung nơi đất khách trở về chiến khu, xâm nhập quê hương tiếp tục chiến đấu hiến dâng cuộc đời cho Tổ Quốc, giành lại hai chữ "Tự Do" cho quê hương, dân tộc. Ngày 19/08/2011 vừa qua, gần 37 năm sau kể từ ngày "gãy súng", có người vừa trở lại bằng nắm xương tàn với chiếc nón sắt rỉ sét và tấm thẻ bài lạnh giá, đó là bốn Người Lính "Thiên Thần Mũ Đỏ" đã anh dũng chiến đấu tại thị xã Bà Rịa, Vũng Tàu đến trưa ngày 01/05/1975 và can trường quyên sinh theo mệnh nước ... trong tương lai còn bao nhiêu anh hùng QLVNCH sẽ trở về bằng nắm xương khô từ một mảnh đất, gốc cây nào đó trên quê hương ... Chiến tranh kết thúc trong tang thương, uất nghẹn. Sau ngày tàn chinh chiến, lũ người "chiến thắng" hung hăng "hồ hởi, phấn khởi" gieo tang tóc lên toàn thể gia đình Quân-Dân-Cán-Chính VNCH ; Lũ người đi "chống Mỹ, cứu Nước" đã mang chủ thuyết cộng sản vô thần khát máu nhuộm đỏ cả quê hương dân tộc bằng chính máu của người dân Việt.
      
      Mỗi năm ... tháng tư đến một lần nhưng không phải là tháng tư tang thương của 36 năm về trước ... Tháng Tư hằng năm mang theo Tháng Tư Đen trong dòng tiềm thức trở về ... như thế chúng ta có 2 tháng tư trong một năm kể từ ngày gãy súng ... tháng tư của mỗi năm và Tháng Tư Đen năm xưa ... 36 năm, 72 tháng tư đau buồn. Ngày tàn chinh chiến đã trôi xa, những năm dài nơi chốn lao tù khắc nghiệt, tang thương cũng đã qua ... nỗi đau uất nghẹn, căm hờn cũng phôi pha phần nào trong hơn 1/3 thế kỷ nhưng phôi pha không có nghĩa là quên và càng không thể nào quên những tội ác tày trời, tội phản quốc của lũ CSVN gây ra trên quê hương trong 36 năm qua như đem từng phần đất nước hiến dâng cho Trung cộng, đối xử độc ác dã man với người dân còn tồi tệ hơn nô lệ, bán dân ra nước ngoài làm lao động, làm nô lệ tình dục ... lũ cộng sản chỉ biết dùng bạo lực dã man đè đầu cỡi cổ người dân để bọn chúng tiếp tục bám víu chiếc ghế đảng cướp, ngất ngưỡng cười man rợ trên đỉnh cao quyền lực và tham nhũng nhưng lại ươn hèn, nhu nhược gục đầu đội "Háng" Quốc.

     Có người không ngượng miệng nói "mấy chục năm rồi còn quốc hận gì nữa, còn chống cộng gì nữa" ... Tôi không biết những người này ăn gì để sống chật đất trong thời chiến ... họ ăn những hạt cơm từ đồng ruộng thắm đỏ giòng máu của Người Lính VNCH để sống hay họ ăn B40 của cộng sản để thoi thóp trốn chạy khỏi thiên đàng máu ; Bao nhiêu năm nay trên xứ người, không biết họ ăn gì mà há mõm thốt nên những lời "thối" như thế. Thật đáng buồn cho những kẻ đem sinh mạng, thân xác đi đánh đổi miếng ăn, manh áo nơi xứ người.

     Đời Lính không kết thúc trên đôi nạng gỗ, trên chiếc xe lăn khi xa rời chiến trận ... Đời Lính không "khóa sổ" sau ngày bị bức tử gãy súng, không bị chôn vùi ở trang sử "Tháng Tư Đen" tang tóc ... Đời Lính không "khai tử" khi đặt bước chân lưu vong, viễn xứ ... Người Lính VNCH vẫn giương cao Lá Quốc Kỳ Màu Vàng Ba Sọc Đỏ trên con đường đấu tranh nơi hải ngoại trong phần đời còn lại của "Người Lính già xa quê hương". Khi nào hai đóm mắt hỏa châu của Người Lính lịm tắt vĩnh viễn trên dương thế, hơi thở cuối cùng thoát khỏi buồng phổi còn vương phần nào khói thuốc súng sa trường ... Đời Lính mới thật sự kết thúc nhưng Người Lính VNCH vẫn sống mãi trong lòng dân tộc, trong dòng lịch sử quê hương. Sự hy sinh cao cả của Người Lính VNCH được trang trọng ghi vào trang chiến sử "Bảo Quốc-An Dân" bi hùng lưu lại cho hậu thế ... Bộ Quân Sử QLVNCH lừng danh là kỷ vật quý giá của Người Lính VNCH để lại cho đời.

     Một ngày làm Người Lính VNCH ... Trọn đời là Người Lính VNCH.

     Người Lính Việt Nam Cộng Hòa Bất Tử.

Sept 04, 2011.
Hoàng Nhật Thơ