Wednesday, August 31, 2011

Cái Muỗng

I. Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi "học tập cải tạo", chỉ biết rằng đã có những người "quen" với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được "xây dựng" bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì "trại" được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm "công binh xưởng" chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu "biệt kích" gồm vài căn nhà "xây dựng kiên cố" bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi "được học tập cải tạo" trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi "được giam" ở đây có vẻ như "cởi mở" hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra mở vào.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành "luật" thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm "mua bán đổi chác linh tinh", cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được "cải biên" thành dao kéo mini nhỏ nhắn cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– đưa vào "thiên lao" tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.

II. Ngày qua ngày
, cái "không khí êm ả" của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ "an tâm, hồ hởi phấn khởi" mà bất kỳ anh "trại viên" nào cũng cứ phải viết khi phải làm những "bản kiểm điểm", mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để "một ngày lại vinh quang như mọi ngày" thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía "quân thù", mặt mũi "khẩn trương" rõ rệt. Họ sộc thẳng vào phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có một ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên "phòng thi đua". Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ "quốc cấm" của trại đã quy định.

Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những "trại cải tạo" thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những "tiêu cực". Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục "tuyệt thực", bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh "quản giáo", sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng "đề cao cảnh giác", lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi "mưu đồ".

Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được một anh nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc "kiểm điểm, phê bình" mà chúng tôi gọi là những "buổi tối ngồi đồng" để từ đó hy vọng lòi ra một vài cái "tội". Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai "phê" thì cứ mặc, còn cãi là còn "ngồi đồng". Đi làm suốt một ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn "phê bình" còn "kiểm thảo" thì chịu sao nổi. Nay "làm chưa xong" thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm "căng" thì vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm "treo một chân", thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những chuyện thông đồng, những tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần "tưởng rằng yên ổn" của mấy anh "trại viên" còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người "chẳng có gì để mất" thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ "caritas" như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người chẳng có ai thăm nuôi.

Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi "thăm nuôi" người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh "mồ côi" không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái "thú đau thương".

III. Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ
, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Đó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống xu hào, đó là thứ "thực phẩm cao cấp" nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ xu hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống xu hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ "lả lướt" như tôi đã gặp ở phòng trà tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò "nghịch ngầm" giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống xu hào còn non chưa đến ngày "thu hoạch" nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói "Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn". Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng "ăn dè hà tiện" nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng "trăm công ngàn việc" từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.

Đây là thứ "gia bảo" tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một "trại viên", nhưng trước đây anh ta là cán bộ, "thoái hóa tiêu cực" sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là "phạm binh phạm cán" tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng "cậu huyện Nhụ nằm ở đó".

Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi "cải tạo" cụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.

Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là "ngụy" một bên là "cán" thì khó mà san lấp được...

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc "cao cấp" hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:

- "Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào
nhà đá."
Tôi nằn nì:

- "Đấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự
điển. Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi."
Dực nhìn tôi nghi ngại:
- "Hay là mày giấu tiền trong đó?"
Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.
- "Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu tiền được?"
Dực nửa đùa nửa thật:

- "Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim
trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?"

- "Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì."

- "Vậy sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không
chết cả đám. Tao không chơi."
Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ "có văn hóa". Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:

- "Buổi sáng hôm tôi phải đi "học tập cải tạo", vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày đưa vào túi xách. Đứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc men… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: "con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy".

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:

- "Thôi được, nếu đã là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân."

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách "ăn trộm" này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên "Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…" nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của "thằng chết tiệt" nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như "con có ở xa hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường".

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó "nhí nhảnh" đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi rồi mai bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về "khu biệt kích". Thoát nạn! Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái "phòng đọc sách" chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Đó chính là mùa xuân của tôi.

Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải "cứu lấy" cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã "gan dạ" cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò. Anh bạn nhảy dù, la lên:
- "Bộ ông điên sao?"
Tôi điên thật, hy vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút và khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi được cái muỗng. Đôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:
- "Tôi biết ông mất cái gì rồi."IV. Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu đã lập gia đình ở Miami Florida.

Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sàigòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sàigòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ và sâu sắc hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật đó trên đời không gì có thể so sánh được.

Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 nhân dịp cháu lập gia đình. Nhưng tôi ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.

Văn Quang
 

Một Chút Trong Cuộc Đời



Tàu Đêm Năm Cũ

Tác giả : Trúc Phương
Trình bày : Hoàng Nhật Thơ

Tám Điệp Khúc

Tác giả : Anh Việt Thu
Trình bày : Hoàng Nhật Thơ

Saturday, August 27, 2011

Bài Nhạc "Nỗi Lòng Thương Binh"


Đêm Tình Thương
Gây quỹ giúp anh em TPB.VNCH nơi quê nhà.
Detroit, Michigan 2008

     "Đêm nay thời gian đứng im lắng đọng, cho đôi tình nhân đắm trong giấc mộng ...", câu mở đầu bài hát "Đường xa ướt mưa" của nhạc sĩ Đức Huy thật sự đã đứng im lắng đọng trong tâm hồn tôi đêm nay ... nhưng không có đôi tình nhân đắm trong giấc mộng mà chỉ có mình tôi nằm thao thức trên chiếc sofa nơi phòng khách. Thời gian lặng lẽ trôi trên chiếc đồng hồ đã một giờ khuya, nhìn ra đường không một bóng dáng chiếc xe qua lại, màn đêm được phủ một màu trắng của những "hoa tuyết" đang rơi giăng kín đất trời, không gian chung quanh không một tiếng động ... thời gian như ngừng trôi ... một đêm Đông viễn xứ buốt giá tâm tư ... sắp đón thêm một cái tết tha hương quặn đau lòng cô lữ ... chỉ còn một tháng là bước sang năm mới, 2005 âm lịch.

     Tôi cuộn mình trong chiếc chăn tận hưởng thú "cô đơn" tuyệt vời giữa hơi nóng của máy sưởi hòa trong thời tiết lạnh buốt của mùa đông băng giá ... đưa mắt nhìn trần nhà, tôi nghĩ đến ba triệu người Việt bị làn sóng đỏ "Tháng Tư Đen" xô đẩy trôi giạt, phải khoác manh áo tị nạn sống đời tha hương khắp mọi nẻo đường "Tự Do" trên thế giới. Cuộc sống mới trên đất khách dù đã trôi qua ba mươi năm nhưng vẫn là cuộc sống mới của những kẻ mất quê hương ... Tùy vào khả năng tài chính, việc làm hoặc vì bất cứ một lý do riêng tư của mỗi người ... Người thì mua nhà, người mướn nhà, apartment hoặc "share" phòng ... dù sao đi nữa, chúng ta cũng có một nơi nương náu phủ che "mảnh đời tha hương" trong những đêm lạnh giá, gió mưa, giông bão ... còn những "mảnh đời thống khổ" trên quê hương nói chung, những "mảnh đời bất hạnh" TPB.VNCH nói riêng ... thì sao đây ...! Họ không có được một cái chòi để trú mưa, che chắn bão giông ... chiếc lá rách càng rách nát thêm ... chiếc lá tả tơi càng tơi tả thêm kể từ khi "được" những bộ óc ngu đần kinh niên của lũ "đỉnh cao trí tuệ" "giải phóng" xuống tận cùng vực sâu thống khổ ... tiến nhanh, tiến mạnh, tiến thoi thóp lên chót vót đỉnh tang thương ...

     Họ đi về đâu giữa cái thiên đàng xiềng xích phủ lá cờ máu bị cai trị bởi một lũ quỷ đầu thai đội lốt người trơ trẻn, man rợ, dã man, độc ác khoác chiếc áo "giải phóng" nhuộm đầy máu của dân Việt. Bầu trời quê cha bao la nhưng họ không có một khoảng không gian nhỏ hẹp để hít thở không khí tự do ... đất mẹ rộng thênh thang muôn ngàn lối đi, vạn nẻo đường nhưng họ không có một góc tự do kể từ "Tháng Tư Đen" tang tóc cả quê hương. Những đêm gió mưa giông bão ... người thì khập khểnh bước vào khép nép nơi góc phố, mái hiên ... người thì cố lết lê vào góc cây bên ven đường ... người đang khập khểnh tiếng nạng gỗ tang thương, kẻ lê đôi mông xót xa trên đường vắng ... Cơn mưa khuya lạnh buốt nhẫn tâm trút xuống những "mảnh đời bất hạnh" hay những giọt lệ trời tuôn rơi, tắm mát, xót thương người ngã ngựa ...!

     Hai giọt lệ hiện ra nơi khóe mắt của tôi ... rồi từng giọt lệ nóng theo nhau lăn dài thành một giòng nước mắt xót xa những chiến hữu đã đem một phần thân thể ghép vào hai chữ "Tự Do" cho Miền Nam Việt Nam suốt chiều dài cuộc chiến ... giờ đây phải hứng chịu sự tang thương trên đỉnh tang thương. Trong mắt tôi hiện ra hình ảnh những anh em TPB đang lết lê trong cơn mưa bão, trong tâm tư tôi hiện ra dòng chữ  "Đêm nay trên đường phố thênh thang, một mình tôi giòng nước mắt tuôn tràn ...", tôi vội ngồi dậy ghi lại những dòng chữ đó để sáng dậy đem niềm cảm xúc đêm nay và tâm tư viết bài nhạc. Tôi học nhạc qua bạn bè và tìm tòi thêm trong sách vở, vì thế căn bản nhạc lý của tôi rất nghèo nàn trong khi chỉ còn một tháng nữa là bước sang năm mới theo âm lịch cho nên tôi cố viết để kịp hát trong Hội chợ Tết Nguyên Đán 2005 được tổ chức tại thành phố Cincinnati, tiểu bang Ohio ... Tôi viết nơi làm việc, viết trong buổi ăn, trong lúc lái xe, viết ngay cả lúc đang tắm, viết bất cứ lúc nào tôi có thể ngoại trừ trong giấc ngủ, khi thì viết vào máy computer, khi thì viết trong đầu ... trong hai ngày, tôi đã tạm viết xong bài nhạc và dùng cây đàn guitar khều khều để lấy "tone", tôi hát thì thầm, hát trong đầu giống như thời gian viết nhạc để xem ổn chưa ... sau đó tôi gọi cho ban nhạc để dợt và tôi đã hát trong dịp Tết Nguyên Đán 2005, niềm cảm xúc dâng trào thành những giọt lệ rơi vào tâm tư để trở thành những nốt nhạc "Người Thương Binh Đêm Giao Thừa".

     Đầu tháng tư 2005, ban nhạc gọi tôi cuối tuần đến tập dợt để hát trong đêm tưởng niệm Quốc Hận lần thứ 30, tôi chỉ dợt với ban nhạc một bài "1954 Cha bỏ Quê_1975 Con bỏ Nước" của nhạc sĩ Phạm Duy. Người trưởng ban nhạc yêu cầu tôi hát thêm một bài nữa, tôi trả lời :
_Thôi, một bài được rồi, đâu biết bài gì nữa thích hợp với chủ đề Quốc Hận, các bài khác thì có các anh chị em ca sĩ lãnh phần rồi.
Trưởng ban nhạc nói tiếp :
_Hay là anh Thơ hát thêm bài "Người Thương Binh Đêm Giao Thừa" đi.
_Bài hát đó về Tết không phù hợp với chương trình Quốc Hận đâu.
_Đâu có sao, bài hát đó hay và có ý nghĩa mà.
Thế là tôi dợt thêm bài "Người Thương Binh Đêm Giao Thừa", tôi vừa hát vừa suy nghĩ phải đổi lời bài hát một chút cho phù hợp với chủ đề 30/04. Sau khi dợt xong, tôi đến ngồi một mình ở cái bàn trống để suy nghĩ ... tôi lướt qua trong đầu từng chữ của bài nhạc, tôi nhận thấy nguyên văn bài nhạc không cần sửa đổi ngoại trừ hai câu chót :
"Nơi hè phố, tôi khóc đón xuân sang ... xuân vừa sang, tôi gục ngã bên đường."
Khoảng mười phút sau, tôi đã tìm được ý mới để thay thế hai câu đó, tôi đến gặp ban nhạc xin được dợt lại. Khi tôi vừa dợt xong thì người trưởng ban nhạc hỏi :
_Anh Thơ mới sửa lời bài hát hở ?
Tôi trả lời ngắn gọn :
_Ừ.
_Anh sửa lúc nào ?
_Mới sửa cách đây khoảng 10 phút.
Tôi đã sửa hai câu đó lại như sau :
"Tim rỉ máu, tôi nhớ tháng tư xưa ... ngày ba mươi, máu nhuộm đỏ quê nhà" và tôi cũng đổi tên bài hát thành "Nỗi Đau Ngày Quốc Hận".

     Thời gian chầm chậm trôi trong cuộc sống nhưng vụt lướt qua rất nhanh trong đời người ... Tháng 5/2008, anh em trong Hội Cựu Quân Cán Chính VNCH tại thành phố Detroit, tiểu bang Michigan mời tôi đi tham dự Ngày Quân Lực 19/06 và yêu cầu tôi hát một bài trong phần văn nghệ "Đêm Tình Thương" sau buổi lễ để gây quỹ giúp anh em TPB còn kẹt lại trên quê hương. Tôi nhận lời ngay và xin được đóng góp chút ý kiến với chị trưởng ban văn nghệ :
_Để phần văn nghệ gây quỹ giúp anh em TPB được thêm phong phú, ý nghĩa hơn và cũng để đưa hình ảnh "những mảnh đời bất hạnh" đi sâu vào lòng khán thính giả ... tôi sẽ đóng vai và hát một bài nói về người thương phế binh ... Chị tìm cho tôi một người nữ hát giọng miền Nam bài "Chiều Qua Phà Hậu Giang" để kết hợp với bài hát của tôi thành liên khúc "Thương Phế Binh"
_OK, chị sẽ tìm.
Ngày hôm sau, chị gọi tôi và báo tin vui là chẳng những tìm được một người nữ mà còn có thêm một nam ca nhạc sĩ sẽ hát một bài nhạc về thương binh trong liên khúc TPB.
Tôi dặn chị tìm cho tôi một cây nạng gỗ và sắp xếp với chị về nhạc cảnh liên khúc thương binh đó như sau :
_Tôi sẽ đóng vai thương binh cụt tay hát bài "Nỗi Đau Ngày Quốc Hận", sau đó thì cô ca sĩ Kim Tài bước ra hát tiếp bài "Chiều Qua Phà Hậu Giang" và sau cùng là ca nhạc sĩ Việt Hải vừa đàn vừa hát bài "Giữa Xứ Người ... Tôi Hát Tên Anh".

     Lần đầu tiên tôi đóng vai người TPB.VNCH và hát trong đêm văn nghệ gây quỹ, dù bài hát và nhạc cảnh không diễn tả được trọn vẹn sự thống khổ và nỗi lòng của anh em TPB nhưng tôi thật sự đã nhập vai những mảnh đời bất hạnh, đôi lúc tôi nghẹn ngào trong lời ca tiếng hát ... tôi cảm động rưng rưng nước mắt khi nhiều khán giả đã lên tận sân khấu ủng hộ tài chánh.

     Buổi văn nghệ "Đêm Tình Thương" thành công tốt đẹp trên hai phương diện tinh thần và tài chánh, kết quả mỹ mãn vượt qua sự ước mong của Ban Tổ Chức và cũng trong đêm văn nghệ này, tôi đã đổi tên bài hát một lần nữa cho phù hợp với chủ đề.

     Bài nhạc "Người Thương Binh Đêm Giao Thừa" ra mắt lần đầu tiên trong dịp Tết 2005 rồi trở thành "Nỗi Đau Ngày Quốc Hận" trong đêm văn nghệ tưởng niệm Quốc Hận lần thứ 30 và sau cùng trở thành "Nỗi Lòng Thương Binh" trong "Đêm Tình Thương" tại thành phố Detroit, Michigan năm 2008.

     Tôi không phải là nhạc sĩ, những lời nhạc trong bài hát được hình thành từ tâm tư, niềm cảm xúc của một "Người Lính VNCH" may mắn thoát khỏi cái thiên đường cộng sản ; Mỗi một nốt nhạc là một giọt nước mắt của một "KBC" trôi giạt đến bến bờ Tự Do. Tâm tư, niềm cảm xúc và những giọt lệ đã kết tụ lại thành nhạc phẩm "Nỗi Lòng Thương Binh" ... thân thương kính tặng các anh em TPB.VNCH như một sự tri ân những anh hùng QLVNCH đã đem một phần thân thể ghép vào hai chữ Tự Do cho Miền Nam Việt Nam trong suốt chiều dài cuộc chiến và hiện đang lê lết tang thương, thống khổ bên lề cõi sống dưới đôi dép râu "giải phóng" trong thân phận một người mất nước ngay chính trên Quê Hương Mẹ Việt Nam.

Ngày 26/08/2011
Hoàng Nhật Thơ  


Ngày xưa chiến đấu oai hùng,
Ngày nay nửa tỉnh nửa khùng lang thang,
Quê hương lịch sử sang trang,
Đời tôi lê tấm thân tàn ăn xin.

     Đêm nay trên đường phố thênh thang, một mình tôi giòng nước mắt tuôn tràn, thân tàn phế lê kiếp sống lang thang, không người thân ... bạn bè ở nơi đâu ...
     Ba mươi lăm năm*, tôi buồn khóc quê hương, quê mẹ tôi giờ lắm nỗi đoạn trường. Ôi thành phố ... ôi đất nước tan hoang ... Sài Gòn xưa giờ đã đổi tên rồi.
     Ôi một ngày ba mươi đó, chiến tranh tàn gieo tang tóc thê lương. Người chiến binh tự sát không quy hàng, khắp xóm  làng hằng vạn người phơi thây.
     Ôi một ngày ba mươi đó, kiếp lao tù không có bữa ăn no, ngày đem thân cày thay thế trâu bò, đêm tối về đói lạnh nằm co ro.
     Sương khuya (Mưa rơi) rơi lạnh buốt thân tôi, đi về đâu thành phố đổi tên rồi. Tim rỉ máu, tôi nhớ tháng tư xưa, ngày ba mươi máu nhuộm đỏ quê nhà.

26/08/2011
Hoàng Nhật Thơ

*câu nguyên thủy của bài hát là "ba mươi năm, tôi buồn khóc quê hương ..."
Tôi thay đổi theo mỗi năm đi hát (30, 31, 32, 33, 34, 35 năm ....)